Chùa Diên Phước - NPĐ Chính Phước

Thôn 3 - Xã Diên Sanh - Tỉnh Quảng Trị

Friday, 30.10.2026, 09:06 PM (GMT+7)

PHẬT HỌC » NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

Xuất xứ của Bồ Tát giới

| Friday, 30.10.2026, 07:15 PM |   (7 Xem)


Nói về nguồn gốc của Bồ Tát giới, có thể chia thành ba loại: Anh Lạc kinh và Phạm Võng kinh thuộc một loại; Du Già luận, Địa Trì kinh, Thiện Giới kinh thuộc một loại; Ưu Ba Sắc Giới kinh đứng thành một loại riêng. Nay xin lần lượt trình bày như sau:


Thứ nhất, từ Anh Lạc - Phạm Võng:


Có người cho rằng Phạm Võng kinh thuộc Hoa Nghiêm bộ; khi Phật vừa thành chính giác, ngay tại Diệu Quang đường, ngài đã tụng ra Phạm Võng kinh. Thái Hiền trong Phạm Võng kinh cổ tích ký chép rằng: "Diệu Quang đường chính là Phổ Quang đường được nhắc đến trong kinh Hoa Nghiêm, tên gọi này xuất phát từ việc Phật phóng hào quang, nằm ở nước Ma-kiệt-đà, trong phạm vi đạo tràng Tịch Diệt, cách cây Bồ-đề ba dặm." (Đại Chính tạng, tập 40, tr. 699, giữa) Có thể thấy, Phạm Võng giới được thuyết giảng trên lãnh thổ nước Ma-kiệt-đà dưới thời vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra), cách cội cây Bồ-đề – nơi Phật thành đạo – chỉ ba dặm. Duyên khởi thuyết giảng của Anh Lạc kinh cũng diễn ra vào lúc "Phật lại du ngoạn nước Bình Sa (Tần-bà-sa-la), dưới cội cây đạo tràng, nơi thành chính giác, lại ngồi như trước", "lại phóng bốn mươi hai luồng hào quang" (Đại Chính tạng, tập 24, tr. 1010, giữa). Sau khi phóng quang, kinh liền tuyên thuyết cảnh giới Bồ Tát năm mươi hai cấp vị, rồi tiếp tục ở quyển dưới mà giảng dạy phương pháp thọ mười giới vô tận. Việc Phạm Võng kinh ra đời tuy về thời gian có sớm hơn Anh Lạc kinh, nhưng địa điểm thuyết giảng và việc phóng quang trước khi thuyết lại rất tương đồng. Phạm Võng kinh cũng phóng hào quang trước, kế đó nói về các cấp vị của Bồ Tát, rồi đến quyển dưới mới nêu ra các điều khoản tướng mạo của mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Điểm khác biệt là Anh Lạc kinh không có giới khinh, còn Phạm Võng kinh lại không có phương pháp thọ giới. Tuy nhiên, Anh Lạc kinh và Phạm Võng kinh có quá nhiều điểm giống nhau.


Phạm Võng giới kinh là một trong những bộ Bồ Tát giới kinh được lưu hành rộng rãi nhất tại Trung Quốc. Thế nhưng, vấn đề chân giả của Phạm Võng kinh vốn là chuyện đã có từ xưa và kéo dài đằng đẵng; các mục lục kinh sách đời cũ đều xếp Phạm Võng kinh vào loại nghi ngờ (nghi phẩm). Theo Phạm Võng kinh tự (Bài tựa kinh Phạm Võng) có chép: "Bộ kinh này vốn có một trăm mười hai quyển, sáu mươi mươi mốt phẩm." (Đại Chính tạng, tập 24, tr. 997, trên) Đại sư Pháp Tạng trong Phạm Võng kinh Bồ Tát giới bản sớ, quyển 1 lại viết: "Nếu bàn về bản đủ, theo lời tương truyền của ngài Cưu-ma-la-thích (Loại tụng), ở Tây Trúc có một trăm ngàn tụng, sáu mươi mốt phẩm, nếu dịch đủ sẽ thành ba trăm quyển." (Đại Chính tạng, tập 40, tr. 605, trên) Do phần đại bản của Phạm Võng kinh chưa từng được truyền sang, nên hai quyển thượng hạ của Phạm Võng kinh tại Trung Quốc là do Tam tạng Cưu-ma-la-thích từ trong trí nhớ tụng đọc ra phẩm thứ mười của toàn bộ Phạm Võng kinh, gọi là phẩm Bồ Tát tâm địa pháp môn (gọi tắt là Tâm địa phẩm). Song vì văn cú ở quyển thượng rất khó giải thích, các bài tựa trước sau cũng có điểm đáng ngờ, các điều khoản tướng mạo giới luật cũng khó hiểu, khiến cho các học giả nghi ngờ đây là kinh sách do người Trung Quốc ngụy tạo. Dù vậy, đây lại là một bộ kinh Bồ Tát giới rất được đón nhận, nên qua nhiều triều đại vẫn thường xảy ra tranh luận. Đại sư Thái Hư thời cận đại có viết bài Phạm Võng kinh dữ thiên bát kinh quyết ẩn (Khám phá bí ẩn về kinh Phạm Võng và kinh Thiên Bát), trong đó ngài cho rằng văn cú của mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười kim cang, mười địa được nói ở quyển thượng Phạm Võng kinh có lời văn chi tiết hơn nhưng ý chỉ hoàn toàn đồng nhất với quyển thứ bảy rưỡi đến quyển thứ chín của bộ Đại thừa Du già kim cang tính hải Mạn-thù-sư-lợi thiên tý thiên bát đại giáo vương kinh (gọi tắt là Thiên bát kinh), cụ thể là đồng với bốn mươi tâm vị như mười phát thú v.v., ở phần thượng của Phạm Võng kinh - Tâm địa phẩm. Ngài cũng nói: "Cái gọi là Phạm Võng kinh một trăm hai mươi quyển, hay Thiên bát kinh, cũng chính là một số phẩm trong sáu mươi hai phẩm của Phạm Võng. [...] Văn cú của nó nay đã có Thiên bát kinh làm chứng, ắt phải có căn cứ Phạn văn, do đó những cái thấy nghi ngờ ngụy tạo có thể được gột bỏ." Đây là chủ trương cho rằng kinh là chân thật không phải giả mạo.


Thế nhưng, ý kiến của pháp sư Tục Minh cận đại lại có góc nhìn khác. Ngài nói: "Do văn tự của bài tựa và hậu ký có rất nhiều dấu vết tương đồng sao chép, không giống như xuất bút từ tay ngài Tăng Triệu; cho nên có người vừa nghi kinh không phải do Cưu-ma-la-thích dịch, lại vừa nghi bài tựa không phải do Tăng Triệu soạn; từ nghi bài tựa mà càng nghi đến cả kinh!" Ngài lại nói: "Quyển thượng của Phạm Võng kinh, đối chiếu về văn tự thì không khớp với các sách do Cưu-ma-la-thích dịch, tra lại thì thấy văn nghĩa trùng khớp với một đoạn trong kinh Thiên bát đại giáo chủ dịch đời Đường, nhưng vì thiếu các chứng cứ ngoài hai kinh này nên khó mà đưa ra ngay bất kỳ kết luận nào." (Xem chi tiết trong Giới học thuật yếu) Dựa vào sự khảo cứu của pháp sư Tục Minh, ngài cho rằng bài tựa và hậu ký của Phạm Võng kinh có vấn đề, kinh văn quyển thượng cũng không phải do Tam tạng Cưu-ma-la-thích dịch; đồng thời, thông qua việc so sánh suy đoán theo hình thức Tiểu thừa luật, ngài cho rằng Phạm Võng kinh nhất định cũng có căn cứ đại bản, đồng thời cho rằng mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh của Phạm Võng giới không phải xuất phát từ "một phẩm Tâm địa phẩm" như lời tương truyền, mà là được trích ra từ các phẩm của đại bản. Phát kiến này rất đáng trân trọng.


Nhưng tôi xin bổ sung thêm một vài ý kiến: Như đã nói ở phần trước, Phạm Võng kinh và Anh Lạc kinh có rất nhiều điểm tương đồng; cả hai đều là đốn lập giới, đều được thuyết giảng trong cùng một thời điểm tại gần đạo tràng Bồ-đề ở nước Ma-kiệt-đà; và đều nói về mười điều trọng giới giống nhau. Vậy thì, chúng ta cũng có thể tin rằng: "Bộ Phạm Võng kinh bản dịch một quyển là do pháp sư Cưu-ma-la-thích tụng dịch mà ra; còn Phạm Võng kinh bản hai quyển là do chịu ảnh hưởng từ hình thức của Anh Lạc kinh mà được gắn thêm một quyển thượng. Lại vì trong quyển hạ của Phạm Võng kinh, cách gọi chung cho bốn mươi vị hiền thánh Bồ Tát là mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười kim cang, mười địa, nên đã dùng một phần của Thiên bát kinh làm quyển thượng cho Phạm Võng kinh." Tuy nhiên, điều này cũng có điểm mâu thuẫn: Phạm Võng kinh bản hai quyển đã xuất hiện từ thời Phí Trường Phòng trong tác phẩm Lịch đại tam bảo kỷ (năm Khai Hoàng thứ 17 đời Tùy Văn Đế [năm 597 SCN]), trong khi Thiên bát kinh lại do Tam tạng Bất Khỗng dịch vào đời Đường, điều này bị đảo ngược về mặt thời gian. Có chăng là Thiên bát kinh hoặc bản Phạn văn mang tính chất tương tự đã sớm được truyền đến Trung Quốc từ trước?


Ngoài ra, pháp sư Tục Minh cho rằng Phạm Võng giới có lẽ được trích ra từ các phẩm của đại bản; đây là lệ thường của Thanh văn giới. Nhưng chúng ta thấy trong kinh Đại thừa là Ưu Ba Sắc Giới kinh, sáu giới trọng và hai mươi tám giới khinh đều tập trung ở một phẩm là phẩm Thọ giới, đủ thấy hình thức của Đại thừa luật và Thanh văn luật có sự khác biệt. Cho nên đây vẫn là một vấn đề còn cần phải nghiên cứu thêm. Đồng thời, mười điều trọng giới trong Anh Lạc kinh cũng được thuyết giảng tập trung, chứ không phải được giải thích riêng rẽ.


Dù thế nào đi nữa, sự tồn tại và tính chân thực của Bồ Tát giới là không thể phủ nhận. Bồ Tát giới ở Tây Trúc vốn đã được lưu hành từ lâu đời. Chẳng hạn trong Phạm Võng kinh Bồ Tát giới bản sớ của Pháp Tạng có chép: "Lại nghe ở cõi Tây phương, các chùa Tiểu thừa lấy tôn giả Tân-đầu-lư (Piṇḍola) làm thượng tọa, còn các chùa Đại thừa lấy Văn-sù-sư-lợi (Manjushri) làm thượng tọa; đại chúng cùng nhau trì tụng Bồ Tát giới, khi Yết-ma thuyết giới đều hành pháp sự của Bồ Tát, tạng luật được tụng niệm mãi không dứt." (Đại Chính tạng, tập 40, tr. 605, giữa)


Thứ hai, từ Du Già:


Loại Du Già bao gồm ba bộ: Du Già luận, Địa Trì kinh và Thiện Giới kinh. Ba bộ giới bản này đều xuất phát từ cùng một bản gốc của Du Già sư địa luận nhưng có các bản dịch khác nhau. Có lẽ do quan điểm của các dịch giả khác nhau, hoặc do bản Phạn văn mà họ tiếp cận khác nhau, nên mới dẫn đến sự khác biệt giữa chi tiết và lược giản, thiên trọng hay thiên khinh. Dẫu vậy, nguồn gốc của hệ phái này là điều không thể nghi ngờ. Điểm khác biệt lớn nhất giữa loại Du Già và loại Anh Lạc - Phạm Võng nằm ở phần duyên khởi và cấu trúc của giới kinh. Anh Lạc kinh và Phạm Võng kinh là do tự kim khẩu của Phật thuyết giảng trong một thời điểm; trong khi ở phần cuối của Du Già giới bản thuộc loại Du Già lại chép rằng: "Những sự việc khởi lên như thế, cùng các học xứ (giới) của Bồ Tát, đều được Đức Phật tùy theo căn cơ mà tản mác thuyết giảng trong các bộ Tố-đát-lãm (Kinh) khác nhau, tức là dựa trên Luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiếp nhiêu ích hữu tình giới; nay tại phần Ma-đát-lý-già (Luận) của Bồ Tát tạng này, được tổng tập lại để tuyên thuyết." (Đại Chính tạng, tập 30, tr. 521, trên) Nói cách khác, loại Du Già do Bồ Tát Di-lặc căn cứ vào những phần về giới luật đã được Phật thuyết giảng rải rác trong các kinh để thu thập và biên tập thành. Cho nên, dẫu đều là Bồ Tát giới do Phật nói, nhưng loại trước hình thành trực tiếp, còn loại sau hình thành qua con đường biên tập gián tiếp; đây là điểm khác biệt về quá trình hình thành. Dù vậy, cả hai vẫn không mất đi bản chất là Bồ Tát giới do Phật thuyết.


Thứ ba, từ Ưu Bà tắc Giới:


Đây là giới luật do thiện nam tử Thiện Sinh cầu Phật vấn pháp, rồi được Đức Phật tự thân mở lời thuyết giảng, gồm có bảy quyển, hai mươi Tám phẩm, được nói ra nhằm phù hợp với căn cơ của người tại gia và thậm chí cả ngoại đạo thời bấy giờ. Đây là một bộ kinh rất hay, từ hành trình của một người cư sĩ mới chư tín ngưỡng cho đến khi thành Phật đều có sự chỉ dẫn chi tiết; song nếu xét từ nhân duyên thọ giới và đắc giớii, đây lại là một bộ Đại thừa giới khó thọ trì và khó đạt được nhất.





(Lượt xếp hạng: 0)


Thư viện ảnh

60 năm GĐPT Chính Phước
Lễ phát thưởng 2026 - PL.2570
Trao giáo chỉ Tấn phong Giáo phẩm
CHU NIÊN 47 NĂM GĐPT CHÍNH PHƯỚC
Giới đàn Như Hải